Tiểu Bộ Kinh: Tiểu Tụng, Pháp Cú, Phật Tự Thuyết, Phật Thuyết Như Vậy, Kinh Tập
ฉบับแปลเวียดนาม · Sutta Piṭaka — The Basket of Discourses · Volume 25 · 58 pages
Summarised by AI from the whole volume (27 topics) — click to jump to where a topic begins.
- Page 15–17 Yamakavagga – Phẩm Song Yếu (Kinh Pháp Cú) Đây là phẩm đầu tiên của Kinh Pháp Cú, nói về các pháp đối nghịch thành từng cặp. Phẩm mở đầu bằng bài kệ nổi tiếng "Ý dẫn đầu các pháp": nếu hành động hay nói năng với tâm ô nhiễm, khổ đau sẽ theo sau như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo; còn nếu hành động với tâm thanh tịnh, an lạc sẽ theo sau như bóng không rời hình. Có bài kệ nổi tiếng rằng oán thù không bao giờ chấm dứt bằng cách ôm giữ oán thù, mà chỉ dứt được nhờ không oán thù. Phẩm cũng so sánh người có giới với người không có giới k
- Page 18 Appamādavagga – Phẩm Không Phóng Dật (Kinh Pháp Cú) Nói về sự không phóng dật, cốt lõi của việc tu tập. Phẩm mở đầu bằng bài kệ: không phóng dật là con đường đưa đến bất tử, phóng dật là con đường đưa đến cái chết; người không phóng dật thì không chết, người phóng dật dù còn sống cũng như đã chết. Phẩm dạy bậc trí hãy hoan hỷ trong sự không phóng dật và tinh cần cho đến khi chứng đạt Niết-bàn. Có ví dụ so sánh bậc trí đã lên lâu đài trí tuệ nhìn xuống chúng sinh còn sầu muộn bên dưới, như người đứng trên núi nhìn xuống người ở đồng bằng; và so sá
- Page 19–20 Cittavagga – Phẩm Tâm (Kinh Pháp Cú) Nói về bản chất của tâm hay giãy giụa, dao động, khó chế ngự, được ví như người thợ làm tên uốn thẳng mũi tên, hoặc như con cá bị bắt khỏi nước quăng lên bờ giãy giụa. Vì vậy phẩm dạy hãy điều phục tâm cho an tịnh, vì tâm được điều phục tốt đem lại an lạc. Có những ví dụ nổi tiếng: ví thân này như chiếc bình đất dễ vỡ, ví tâm như thành trì cần được bảo vệ, dùng trí tuệ làm vũ khí chiến đấu với Ma vương. Phẩm cũng nói rằng tâm hướng sai có thể làm hại chính mình còn hơn kẻ thù, trong khi tâm hướn
- Page 21–22 Pupphavagga – Phẩm Hoa (Kinh Pháp Cú) Dùng hình ảnh hoa và con ong để dạy giáo pháp. Người chọn hái những bông hoa của Pháp giống như người khéo léo biết chọn đúng. Người mải mê đắm say trong dục lạc giống như người mải hái hoa cho đến khi bị thần chết cuốn đi. Còn vị tỳ-khưu vào làng nên cư xử như con ong hút mật hoa mà không làm hại cánh hoa và sắc hoa. Có bài kệ nổi tiếng rằng hương hoa chỉ bay theo chiều gió, nhưng hương đức hạnh của bậc chân nhân bay ngược gió, tỏa khắp mọi phương. Phẩm kết thúc bằng ví dụ hoa sen mọc lên tươi
- Page 23–24 Bālavagga – Phẩm Người Ngu (Kinh Pháp Cú) Nói về đặc tính và quả báo của người ngu. Phẩm nói rằng đêm dài đối với người mất ngủ, đường xa đối với người mệt mỏi, và vòng luân hồi dài đối với kẻ ngu không hiểu rõ Chánh pháp. Phẩm dạy nếu không tìm được bạn đồng hành tốt thì thà đi một mình còn hơn kết bạn với kẻ ngu; kẻ ngu biết mình ngu còn hơn kẻ ngu tưởng mình là người trí; nghiệp ác đã làm mà chưa trổ quả thì giống như lửa còn âm ỉ dưới lớp tro phủ, nhưng khi nghiệp ác trổ quả thì kẻ ngu phải chịu khổ. Ngoài ra, phẩm còn nhắc nhở tỳ-k
- Page 25–26 Paṇḍitavagga – Phẩm Người Trí (Kinh Pháp Cú) Đối lập với Phẩm Người Ngu, phẩm này nói về đặc tính của người trí. Phẩm dạy hãy thân cận người có trí tuệ, người chỉ ra lỗi lầm của mình như người chỉ chỗ chôn kho báu, vì thân cận người như vậy chỉ có lợi mà không có hại. Người trí tự rèn luyện mình như thợ làm tên uốn mũi tên, thợ mộc đẽo gỗ, hay người nông dân dẫn nước vào ruộng, và có tâm vững vàng, không dao động trước lời chê khen như tảng núi đá kiên cố không lay chuyển trước gió. Phẩm kết thúc bằng lời dạy hãy từ bỏ pháp đen, tu tập phá
- Page 27 Arahantavagga – Phẩm A-la-hán (Kinh Pháp Cú) Mô tả phẩm chất của bậc A-la-hán, người đã dứt sầu muộn, giải thoát khỏi mọi trói buộc của phiền não, không bám víu vào chỗ ở như đàn thiên nga rời bỏ hồ nước bay đi, có tâm rỗng lặng khỏi tham ái và chấp thủ như chim bay trên hư không khó tìm được dấu vết. Phẩm nói rằng ngay cả chư thiên cũng mong được như bậc A-la-hán, người có các căn an tịnh như con ngựa đã được điều phục khéo. Nơi nào bậc A-la-hán cư trú, dù là làng mạc hay rừng núi, nơi ấy luôn là chốn khả ái, vì các ngài không còn tìm cầu
- Page 28–29 Sahassavagga – Phẩm Ngàn (Kinh Pháp Cú) Dạy về giá trị của chất lượng hơn số lượng. Phẩm nói rằng ngàn lời vô ích không bằng một lời hữu ích nghe xong tâm được an tịnh, và người chiến thắng chính mình cao quý hơn người chiến thắng ngàn quân địch nơi chiến trận. Có bài kệ so sánh rằng cúng dường bậc đã tu tập tự thân chỉ trong chốc lát có phước báu lớn hơn tế lễ suốt trăm năm, và người thường kính lễ bậc trưởng thượng thì bốn pháp tăng trưởng: tuổi thọ, dung sắc, an lạc và sức mạnh. Phẩm kết thúc bằng lời khẳng định rằng sống một ngày
- Page 30–31 Pāpavagga – Phẩm Ác (Kinh Pháp Cú) Dạy hãy mau làm điều thiện và giữ tâm khỏi điều ác, vì khi tâm không vui thích làm phước thì tâm sẽ vui thích điều ác. Việc ác dù nhỏ cũng không nên làm lại, vì điều ác tích tụ từng giọt như những giọt nước dần dần làm đầy tràn chiếc bình; cũng vậy, phước thiện tích lũy từng chút một rồi cũng đầy. Phẩm dạy hãy tránh xa điều ác như người thương buôn đi đường vắng tránh hiểm nguy, hay như người yêu mạng sống tránh thuốc độc, và nhấn mạnh rằng không nơi nào trên thế gian, dù giữa hư không, giữa biể
- Page 32–34 Daṇḍavagga – Phẩm Hình Phạt (Kinh Pháp Cú) Dạy về sự không làm hại người khác, bằng cách lấy mình so với người: ai cũng sợ chết và ai cũng yêu mạng sống như nhau, vì thế không nên giết hại hay làm hại chúng sinh khác. Người làm hại kẻ khác để mưu cầu hạnh phúc cho mình thì về sau không được hạnh phúc, còn người không làm hại thì được hạnh phúc. Có bài kệ dạy rằng làm sa-môn hay bà-la-môn không phải ở chỗ hành hạ thân xác như sống lõa thể, bện tóc thành búi hay nằm trên đất, mà ở chỗ buông bỏ gậy gộc đối với mọi chúng sinh. Phẩm cũng nhắc
- Page 35 Jarāvagga – Phẩm Già (Kinh Pháp Cú) Quán xét sự vô thường của thân này, phải đối mặt với già, bệnh và chết, nhắc nhở hãy tìm kiếm ánh sáng trí tuệ giữa bóng tối của phiền não. Phẩm chỉ ra rằng thân này chỉ là một hình hài được tạo tác, đầy thương tích, cuối cùng sẽ tan rã và mục nát. Có bài kệ nổi tiếng mà Đức Phật thốt lên khi giác ngộ: Ngài đã tìm kiếm người thợ xây nhà (tham ái) qua vô số kiếp, nay đã tìm thấy và đã phá hủy toàn bộ khung nhà; tâm Ngài đã đạt đến pháp không còn tạo tác, tức là sự diệt tận tham ái.
- Page 36 Attavagga – Phẩm Tự Ngã (Kinh Pháp Cú) Dạy về việc gìn giữ bản thân cho tốt trước khi dạy người khác. Phẩm nói rằng nếu thương mình thì hãy khéo giữ gìn mình; người trí nên tự rèn luyện bản thân cho đúng đắn trước rồi mới dạy người khác, vì tự điều phục mình là điều rất khó. Chỉ chính mình mới là nơi nương tựa của mình, không ai khác thật sự làm chỗ nương tựa được. Điều ác do mình làm sẽ hủy hoại chính mình như kim cương mài mòn viên ngọc sinh ra từ nó. Phẩm cũng nhắc nhở rằng không nên bỏ lợi ích của mình vì lợi ích của người khác d
- Page 37–38 Lokavagga – Phẩm Thế Gian (Kinh Pháp Cú) Dạy về cách sống đúng pháp trong thế gian: không nên làm điều hạ liệt, không nên sống phóng dật và không nên giữ tà kiến. Phẩm dạy hãy nhìn thế gian như bọt nước hay ảo ảnh không bền lâu, vì khi nhìn thế gian như vậy thì thần chết không tìm thấy. Có ví dụ rằng người trước kia phóng dật mà sau không phóng dật sẽ soi sáng thế gian này như vầng trăng ra khỏi mây mù. Phẩm kết thúc bằng lời khẳng định rằng quả Dự lưu (Sotāpatti) còn cao quý hơn cả làm vua duy nhất trên mặt đất hay thậm chí được lên c
- Page 39–40 Buddhavagga – Phẩm Phật Đà (Kinh Pháp Cú) Tán thán đức hạnh của Đức Phật, bậc có chiến thắng mà không ai có thể giành lại, bậc không còn tham ái trói buộc nào để có thể lần theo dấu vết. Thật khó được sinh làm người, khó được sống còn, khó được nghe Chánh pháp, và rất khó để một vị Phật xuất hiện trên đời. Có bài kệ nổi tiếng tóm tắt cốt lõi của Phật giáo: không làm mọi điều ác, thành tựu các điều lành, giữ tâm ý thanh tịnh. Phẩm dạy rằng chỉ có sự quy y Tam Bảo chân thật, với trí tuệ thấy rõ Tứ Thánh Đế, mới là nơi nương tựa an ổn; khá
- Page 41–42 Sukhavagga – Phẩm An Lạc (Kinh Pháp Cú) Nói về sự an lạc của người không oán thù giữa những người oán thù, không nóng bức giữa những người nóng bức, và không bôn ba giữa những người bôn ba. Người an lạc như vậy được ví như chư thiên cõi Quang Âm (Ābhassara) lấy hỷ làm thức ăn. Phẩm dạy rằng không lửa nào bằng tham ái, không tội lỗi nào bằng sân hận, và không hạnh phúc nào bằng sự tịch tịnh tức Niết-bàn. Có bài kệ nổi tiếng: không bệnh là lợi lớn nhất, biết đủ là tài sản lớn nhất, và Niết-bàn là hạnh phúc tối thượng. Phẩm dạy hãy thân
- Page 43 Piyavagga – Phẩm Hỷ Ái (Kinh Pháp Cú) Nói về tai hại của ái luyến và sự bám víu. Phẩm dạy không nên gắn bó với điều mình yêu cũng như điều mình không yêu, vì xa lìa điều mình yêu là khổ, mà gặp điều mình không yêu cũng là khổ. Có một loạt bài kệ lặp lại cùng cấu trúc, nói rằng sầu muộn và sợ hãi sinh ra từ điều thân yêu, từ ái luyến, từ hỷ lạc và từ tham ái; người đã thoát khỏi những điều ấy thì không còn sầu muộn và sợ hãi nữa. Phẩm kết thúc bằng ví dụ người đi xa lâu ngày trở về được bà con bạn hữu vui mừng đón tiếp, ví như người
- Page 44–45 Kodhavagga – Phẩm Phẫn Nộ (Kinh Pháp Cú) Dạy về việc từ bỏ sân hận và kiêu mạn. Người kiềm chế được cơn giận đang khởi lên như người đánh xe dừng được cỗ xe đang lao nhanh, bậc ấy được gọi là người đánh xe thật sự, còn những người khác chỉ là kẻ cầm dây cương mà thôi. Phẩm dạy hãy lấy không giận thắng giận, lấy thiện thắng ác, lấy bố thí thắng keo kiệt, và lấy chân thật thắng kẻ nói dối. Có bài kệ nói rằng trên đời không ai không bị chê bai: dù nói nhiều, nói ít hay im lặng đều vẫn có thể bị chỉ trích; vì vậy tốt hơn nên thu thúc thân,
- Page 46–48 Malavagga – Phẩm Cấu Uế (Kinh Pháp Cú) Ví đời sống của người già hay người sắp chết như chiếc lá vàng sắp rụng, nhắc nhở hãy mau tạo chỗ nương tựa cho mình bằng cách gột rửa cấu uế của tâm trước khi quá muộn. Phẩm nói đến nhiều loại cấu uế: không tụng đọc là cấu uế của kinh điển, lười biếng là cấu uế của nhà cửa, phóng dật là cấu uế của người canh giữ, và vô minh là cấu uế nghiêm trọng nhất trong mọi cấu uế. Phẩm cảnh tỉnh đừng sống không biết hổ thẹn, làm hại người khác hay phạm năm giới, và dạy rằng người hay soi lỗi người khác mà
- Page 49–50 Dhammaṭṭhavagga – Phẩm Pháp Trụ (Kinh Pháp Cú) Giải thích ý nghĩa đích thực của các danh xưng: người an trú trong Pháp, người trí, bậc trưởng lão, người hiền thiện, sa-môn, tỳ-khưu và ẩn sĩ (muni), rằng những điều ấy không tùy thuộc vào vẻ bên ngoài như nói nhiều, tóc bạc, cạo đầu hay đi xin ăn, mà ở chỗ phán xét công bằng, thấy rõ Pháp bằng thân dù chỉ chút ít, có chân thật, không làm hại, biết thu thúc và thật sự từ bỏ được điều ác. Chẳng hạn, người cạo đầu mà vẫn còn tham, sân, si thì không phải là sa-môn; chính người đã dập tắt mọi điều
- Page 51–52 Maggavagga – Phẩm Đạo (Kinh Pháp Cú) Nói về Bát Chánh Đạo là con đường cao quý nhất trong các con đường, là con đường duy nhất đưa đến sự thanh tịnh của tri kiến, không có con đường nào khác. Phẩm dạy giáo lý Tam tướng nổi tiếng: khi nào thấy bằng trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường, là khổ, và tất cả các pháp là vô ngã, khi ấy sẽ nhàm chán khổ đau, đó là con đường đưa đến thanh tịnh. Có ví dụ dạy hãy chặt rừng (phiền não) chứ không phải chặt cây thật, vì sợ hãi sinh ra từ rừng tức là phiền não. Phẩm nhắc nhở rằng chừng nào c
- Page 53–54 Pakiṇṇakavagga – Phẩm Tạp Lục (Kinh Pháp Cú) Đây là phẩm tập hợp nhiều bài kệ về các đề tài khác nhau. Phẩm mở đầu bằng bài kệ dạy hãy chịu từ bỏ hạnh phúc nhỏ để được hạnh phúc lớn hơn. Có bài kệ ẩn dụ về việc giết cha mẹ (tức là tham ái và kiêu mạn) và hai vị vua (tức là thường kiến và đoạn kiến) để trở thành bà-la-môn không còn khổ đau. Có một loạt bài kệ về các đệ tử của Đức Gotama luôn tỉnh thức vì mọi lúc đều chánh niệm tưởng nhớ Phật, Pháp, Tăng, thân và sự không làm hại. Phẩm kết thúc bằng lời dạy hãy vui thích sống một mình, ngồi
- Page 55 Nirayavagga – Phẩm Địa Ngục (Kinh Pháp Cú) – phần mở đầu, chưa hết trong đoạn này Mở đầu phẩm nói về địa ngục hay quả của nghiệp ác. Bài kệ đầu tiên nói rằng người nói dối, hoặc người đã làm rồi mà chối là không làm, đều rơi vào địa ngục như nhau; cả hai hạng người này sau khi lìa đời đều như nhau, là những kẻ có nghiệp thấp hèn. Bài kệ tiếp theo nói đến những người quấn áo cà-sa quanh cổ mà có tính ác, không biết thu thúc, sẽ sinh vào địa ngục do nghiệp ác của chính mình. Phần nội dung này chỉ là phần mở đầu của phẩm ở trang 55; phần còn lại của phẩm chưa hết và tiếp tục ở t
- Page 56 Nirayavagga – Phẩm Địa Ngục (Kinh Pháp Cú) Phần cuối của Phẩm Địa Ngục (phẩm thứ 22), nói về hậu quả xấu của hành vi trái đạo đức dẫn đến địa ngục. Chẳng hạn, có ví dụ rằng nuốt hòn sắt nung đỏ còn hơn thọ dụng thức ăn của dân chúng mà không biết thu thúc; ngoại tình với vợ người khác đem lại tội lỗi, khổ cảnh, sợ hãi và hình phạt của vua; như cỏ kusa nắm không khéo thì cứa đứt tay, cũng vậy đời sống sa-môn thực hành lơi lỏng sẽ dẫn đến địa ngục. Phẩm dạy hãy cẩn trọng giữ gìn bản thân như thành trì biên giới được canh phòng kỹ, vì cơ hộ
- Page 57–59 Nāgavagga – Phẩm Voi (Kinh Pháp Cú) Phẩm thứ 23, so sánh người tự điều phục với voi chiến chịu đựng mũi tên. Phẩm dạy rằng người đã tự điều phục tốt thì cao quý hơn mọi loài vật cưỡi đã được thuần hóa, vì đưa đến được nơi mà các phương tiện khác không đến được, tức là Niết-bàn. Có ví dụ về con voi Dhanapālaka dù bị xích vẫn nhớ đến bầy voi trong rừng, và lời cảnh tỉnh về sự lười biếng, tham ăn như con heo béo cứ quanh quẩn trở lại thai bào. Phẩm dạy hãy không phóng dật và giữ gìn tâm mình; nếu không gặp bạn tốt thì thà sống một mì
- Page 60–63 Taṇhāvagga – Phẩm Tham Ái (Kinh Pháp Cú) Phẩm thứ 24, nói về tham ái hay sự khao khát. Tham ái được ví như dây leo māluvā bò quấn phủ lên người phóng dật, khiến khổ đau sinh sôi không dứt. Phẩm dạy hãy đào tận gốc rễ của tham ái, bằng không thì dù đã chặt thân cây, nó vẫn mọc lại như cây mà rễ chưa bị hủy. Phẩm mô tả ba mươi sáu dòng tham ái cuốn trôi về các đối tượng khả ái, nói rằng sự trói buộc thật sự không phải là xiềng xích sắt mà là sự bám víu vào con cái, vợ và đồ trang sức, vốn khó cắt đứt hơn nhiều, và dạy hãy buông bỏ quá kh
- Page 64–66 Bhikkhuvagga – Phẩm Tỳ-khưu (Kinh Pháp Cú) Phẩm thứ 25, nói về phẩm chất của một vị tỳ-khưu chân chính, bắt đầu bằng sự thu thúc sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, là nhân để thoát khỏi mọi khổ đau. Phẩm dạy vị tỳ-khưu hãy vui thích trong Pháp, không ganh tị với lợi lộc của người khác, tu tập tâm từ và thiền minh sát (vipassanā) để đạt đến sự tịch tịnh. Có ví dụ về việc tát nước ra khỏi thuyền (tức là phiền não) để thuyền nhanh chóng đến được Niết-bàn, và nhấn mạnh rằng thiền định (jhāna) và trí tuệ phải đi đôi với nhau mới gần Niết-
- Page 67–72 Brāhmaṇavagga – Phẩm Bà-la-môn (Kinh Pháp Cú) và phần kết thúc Kinh Pháp Cú Phẩm thứ 26, phẩm cuối cùng của Kinh Pháp Cú, định nghĩa lại "bà-la-môn" chân chính theo giáo lý Phật giáo: không phải người sinh ra trong dòng dõi, có búi tóc hay cử hành nghi lễ, mà là người đã dứt sạch phiền não, cắt đứt dòng tham ái, nhẫn chịu lời mắng nhiếc và sự hãm hại mà không giận dữ, không bám víu vào bất cứ điều gì và đã đạt đến pháp tối thượng. Câu kệ "tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ" (Ta gọi người ấy là bà-la-môn) được lặp lại hàng chục lần để nêu lên các phẩm chất khác nhau của bậc A-la-há